0818788000
Tìm hiểu về phép đo ASSR
V. LUYỆN NÓI CHO TRẺ ĐIẾC ( Giáo sư Phạm Kim)
07/09/2020
Kiến thức căn bản về thính giác và máy trợ thính
12/09/2020
Hiện tất cả

Tìm hiểu về phép đo ASSR

EVOKED POTENTIAL AUDIOMETRY
CÁC LỜI KHUYÊN CHO BÁC SĨ
AUDITORY STEADY-STATE RESPONSES
Tác giả : David R. Stapells
Hamber Professor of Clinical Audiology, School of Audiology & Speech Sciences
University of British Columbia, Vancouver, B.C. Canada
© David R. Stapells, 2003 – 2010
ASSR10: ASSR DẪN TRUYỀN KHÍ BÌNH THƯỜNG Ở TRẺ NHỎ LÀ BAO NHIÊU? (đã chỉnh 11/ 2009)
Dựa vào các kết quả mới đây ( xem Van Maanen & Stapells, JAAA, 2009 tải trực tiếp từ Download .pdf file direct from JAAA (open access paper)) và tài liệu ( xem “bảng 6” bên dưới ),
chúng tôi đề nghị các mức “ bình thường” đo các âm dẫn truyền đường khí 50, 45, 40, và 40 dB HL cho các tần số 500, 1000, 2000 và 4000 Hz.
Như vậy , bình thường tại tần số 500 Hz, ở một đứa trẻ nhỏ phải có đáp ứng tại 50 dB HL.
ASSR10: KHI ĐO ASSR DẪN TRUYỀN ĐƯỜNG XƯƠNG (HOẶC ABR) Ở TRẺ NHỎ LÀM SAO TÔI CHỈNH HIỆU ỨNG BÍT TẮC (OCCLUSION EFFECT ) ?
Dựa vào các kết quả của chúng tôi ( xem Small, Hatton & Stapells, 2007), không có yếu tố điều chỉnh cho hiệu ứng bít tắc khi đo dẫn truyền đường xương cho trẻ em với tai nghe bằng xốp ( insert earphones. Điều này có nghĩa là chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tìm ngưỡng nghe dẫn truyền đường xương với so với không dùng tai nghe bằng xốp ).) Một nghiên cứu tiếp theo của Susan Small đã xác định điều này .
Điều này quan trọng bởi vì (i) nó cho phép chuyển đổi qua lại giữa dẫn truyền khí và xương mà không phải tháo tai nghe bằng xốp ra , đẩy nhanh tiến độ thử nghiệm và cho phép cho một trật tự ưu tiên thử nghiệm nhiều hơn, và (ii) trẻ ít khả năng bị đánh thức bởi tháo và lắp lại tai nghe bằng xốp .
Ghi nhớ : đo ASSR dẫn truyền đường xương vẫn trong thử nghiệm — Không có dữ liệu được công bố ở trẻ nhỏ bị khiếm thính với xác định tình trạng nghe tần số cụ thể ( xem Small & Stapells, 2006; Small và cộng sự ., 2007 và Small & Stapells, 2008 cho trẻ nhỏ bình thường ).
ASSR9: CÓ SAI SỐ KHI SỬ DỤNG MÁY TẠO DAO ĐỘNG XƯƠ NG CẦM TAY ĐỂ ĐO ASSR ( HOẶC ABR)?
Không nhất thiết, nếu bạn hoặc những người trợ lý đang cầm máy tạo dao động xương được đào tạo tốt trong việc áp dụng một lực không đổi và thích hợp.
Chúng tôi (Small, Hatton & Stapells, 2007) gần đây đã so sánh những người trợ lý được đào tạo ít nhất là cầm thiết bị với lực không đổi và thích hợp với sử dụng băng thun kỹ thuật . Chúng tôi cũng nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê các ngưỡng nghe đường xương test hành vi người lớn hoặc ngưỡng ASSR BC trẻ sơ sinh khi sử dụng hai kỹ thuật.
Một lợi ích của băng thun là không cần thêm một trợ lý . Ngoài ra, một số thử nghiệm, người làm thử nghiệm và thiết bị ở bên ngoài phòng đo – cần một trợ lý để giữ thiết bị .
Một lợi ích của việc cầm giữ thiết bị là nó nhanh hơn và thoải mái hơn cho các trẻ sơ sinh, và khả năng để đánh thức trẻ sơ sinh so với sử dụng băng thun ít hơn nhiều
Vì vậy, hãy sử dụng cách nào mà bạn có thể làm tốt nhất . Trong cả hai trường hợp bạn (và / hoặc trợ lý) phải có kinh nghiệm / được đào tạo trong việc sử dụng máy tạo dao động xương.
Ghi nhớ : đo ASSR dẫn truyền đường xương vẫn trong thử nghiệm — Không có dữ liệu được công bố ở trẻ nhỏ bị khiếm thính với xác định tình trạng nghe tần số cụ thể ( xem Small & Stapells, 2006; Small và cộng sự ., 2007 và Small & Stapells, 2008 cho trẻ nhỏ bình thường ).
ASSR8: QUI TRÌNH LÂM SÀNG KẾT HỢP ASSR/ABR
Hiện nay, khi bất kỳ ngưỡng nghe nào được nâng lên, ASSR không đủ để là một test điện sinh lý “độc lập”. Đó là, khi một ngưỡng nghe dẫn truyền khí ASSR bị nâng lên, cũng cần đo tìm các ngưỡng nghe âm nhanh dẫn truyền đường khí và xương ABR.
Một qui trình kết hợp đo ASSR/ABR hiện nay là hợp lý .
Trong qui trình này, người ta bắt đầu bằng “sàng lọc” cả hai tai và bốn tần số đồng thời. Nếu ASSRs hai tai ở mức “bình thường” tất cả 4 tần số , thì kết luận “bình thường” là hợp lý , và dừng lại kiểm tra. Sử dụng ASSR đo đa tần số , thường có thể được thực hiện đối với trẻ nghe bình thường đang ngủ trong 3-5 phút (tuy nhiên, một số trẻ sơ sinh có thể cần 12 đến 15 phút để có được EEG đủ thấp .).
Nếu bất kỳ ASSR không xuất hiện ở mức bình thường, phải chuyển sang đo ABR âm dẫn truyền đường xương trước sau đó đo dẫn truyền đường khí .
Khi Tìm kiếm ngưỡng nghe ASSR bị nâng cao , hữu ích hơn , có thể phải chờ đến khi có thông tin ngưỡng nghe ABR đường khí / đường xương .
Qui trình lâm sàng kết hợp ASSR/ABR này chỉ nên được sử dụng bởi các tổ chức / các bác sĩ có hiểu biết đáng kể và kinh nghiệm với ASSRs.
Qui trình lâm sàng kết hợp ASSR/ABR (1/ 2007):
1. Bắt đầu với đo ASSR đa tần số ở mức bình thường ( dẫn truyền đường khí : 500, 1000, 2000, 4000 Hz; đồng thời ở mỗi tai )
” Mức dẫn truyền bình thường của đường khí “ dựa trên tài liệu và nghiên cứu gần đây của chúng tôi
500 Hz: 50 dBHL
1000 Hz: 45 dBHL
2000 Hz: 40 dBHL
4000 Hz: 40 dB HL
( Bình thường là trẻ sơ sinh phải có đáp ứng tại các mức kích thích này )
( Chú ý : đối với ASSR vắng mặt , có nghĩa là ồn (xung quanh tần số điều biến ) phải là 10 nV hoặc ít hơn . Điều này có thể đòi hỏi việc ghi lại 12-15 phút . Điều này bảo đảm :
1. Bệnh nhân nhận được chuẩn vàng đánh giá ngưỡng nghe ABR âm khi ASSR nâng cao
2. Bệnh nhân nhận được so sánh khí xương khi cần thiết
3. Các kết quả ASSR đa tần số dẫn truyền đường khí cung cấp kiểm tra nhanh đối với các trường hợp bình thường qua 4 tần số . )
2. Nếu ASSR vắng mặt tại mức đo đường khí bình thường , bước tiếp theo là :
Bone-conduction tone-ABR (2000 và / hoặc 500 Hz) tại mức bình thường
Ngưỡng nghe ABR âm dẫn truyền khí – xương
(Ghi nhớ :
1. Đo ABR đường xương khi ABR đường khí hoặc ASSR tăng
2. Cảnh báo Neuropathy/ rối loạn chức năng thần kinh : Nếu sóng V ABR không rõ ràng nhìn thấy với các âm cường độ tối đa 2k — cần đo click-ABR . )
3. Các cải tiến trong tương lai sẽ bao gồm tầm soát bone-conduction ASSR
ASSR 7: VỀ ASSR DẪN TRUYỀN XƯƠNG
Gần đây chúng tôi đã xuất bản một số bài báo liên quan đến ASSR đối với các kích thích dẫn truyền xương ở người lớn và trẻ nhỏ (Small & Stapells, 2004, 2005, 2006; Small, Hatton & Stapells, 2007). [Xem trang Tải xuống HAPLAB.] Kể từ tháng 1 năm 2007, không có phát hành các bài ASSR dẫn truyền xương (BC ASSR) ở trẻ sơ sinh (hoặc người lớn) bị mất thính lực dẫn truyền hoặc thần kinh giác quan với xác nhận tình trạng thính giác cụ thể theo tần số.
Về cơ bản, hiện nay có thể xác định ASSR dẫn truyền xương (BC ASSR) bình thường so với tang lên ở trẻ sơ sinh [Có thể sử dụng các bài của Small và đồng nghiệp để xác định mức ASSR dẫn truyền xương (BC ASSR) “bình thường” ở trẻ nhỏ (và mức tăng là bao nhiêu). Chúng không thể sử dụng để xác định mức độ suy yếu.]
Một số hệ thống ASSR lâm sàng có thể không được thiết lập đúng để dẫn truyền xương và tất cả đều yêu cầu kiểm tra hiệu chuẩn BC của chúng.
[Để biết chi tiết khác về thử nghiệm dẫn truyền xương ở trẻ nhỏ, hãy xem Small, Hatton & Stapells, 2007 và trang web “Ngưỡng ABR” của HAPLAB]
ASSR6: ĐIỆN CỰC NÀO SỬ DỤNG CHO TRẺ SƠ SINH KHI ĐO ASSR ? CÓ THỂ SỬ DỤNG CÙNG ĐIỆN CỰC ĐỂ ĐO ABR ĐƯỢC KÍCH GỢI BỞI ÂM THANH (TONE-EVOKED ABR)?
Đối với ASSR, nó phụ thuộc vào việc bạn kiểm tra đồng thời cả hai tai và liệu bạn có thể ghi EEG 2 kênh hay không.
Nếu hệ thống chỉ có một kênh EEG cho ASSR thì nếu bạn đang kích thích đồng thời cả hai tai (tức là nhiều kích thích, cả hai tai), bạn phải sử dụng điện cực đường giữa (thường là gáy) cho đầu vào đảo ngược (“-“).
Bạn có thể sử dụng nó (gáy) cho tone-ABR; thật không may, có bốn vấn đề nghiêm trọng: (i) bạn không thể ghi lại sóng I bằng gáy – điều này có thể rất quan trọng nếu nghi ngờ Bệnh thần kinh thính giác – bạn nên chuẩn bị sẵn điện cực xương chũm để xem sóng I ABR và CM (dung kích thích click), (ii) gáy có thể không cung cấp biên độ sóng V lớn , đặc biệt nếu điện cực “gáy” đặt hơi cao – nhưng có rất ít dữ liệu về điều này, (iii) nếu bạn cần làm ABR dẫn truyền xương, bạn thực sự cần hai kênh cho sự không đối xứng cùng bên / đối bên – vì vậy bạn cần điện cực đạt ở xương chũm, và cuối cùng (iv) đặt điện cực ở gáy có thể ồn hơn ở xương chũm.
Vì những vấn đề này, tôi thực sự khuyên bạn nên sử dụng đỉnh đầu (Vertex) (hoặc vùng rất cao của trán) đến vùng thấp của xương chũm cho tone ABR và chuẩn bị cho các ghi lại 2 kênh. Đúng vậy, điều này hiện có nghĩa là có 5 điện cực được bật và sẵn sàng nhưng vẫn có thể đo một EEG trong các hệ thống ASSR đa kênh (ví dụ: Bio-Logic MASTER).
Nếu hệ thống ASSR có thể ghi 2 kênh EEG (hoặc nếu bạn chỉ kích thích một tai mỗi lần), bạn có thể sử dụng điện cực ở đỉnh (Vertex )(hoặc vùng cao của trán) đến vùng thấp của xương chũm và chỉ cần 4 điện cực. Tuy nhiên, lưu ý rằng bạn phải đảm bảo rằng bạn không xác định ngưỡng ABR hoặc ASSR bằng cách sử dụng kênh “ đối bên “. ( Các Đáp ứng kênh đối bên của trẻ sơ sinh nhỏ hơn nhiều và các ngưỡng cao hơn ít nhất 10-20 dB.)
ASSR5: KÍCH THÍCH VỚI HÌNH BAO THEO CẤP SỐ NHÂN;CÁC KÍCH THÍCH ÂM PIP
Có một số nghiên cứu cho thấy rằng các kích thích có thời gian tăng nhanh hơn có thể tạo ra ASSR với các biên độ lớn hơn. Do đó, các kích thích AM có hình bao “theo cấp số nhân” có thể cung cấp một kích thích tốt hơn. Đi xa hơn nữa, có lẽ các kích thích âm sắc ngắn gọn (“tonepips”) sẽ được ưu tiên hơn – (thực sự, một hệ thống ASSR mới sử dụng các kích thích tonepip). Việc sử dụng các kích thích khởi phát nhanh hơn sẽ làm giảm độ đặc hiệu tần số. Tuy nhiên, đây có thể không phải là vấn đề vì ngay cả ASSR đối với các âm được điều biến theo biên độ hình sin có tần số cao cụ thể cho thấy tần số / vị trí cụ thể tương tự như của ABR với các âm ngắn (2-1-2) (Herdman, Picton & Stapells, 2002 ).
TUY NHIÊN: lưu ý rằng có rất ít nghiên cứu về những kích thích ASSR “mới” này. Không có nghiên cứu về tính đặc hiệu tần số của chúng. Không có nghiên cứu nào về hiệu suất ước tính ngưỡng đối với kich thích hình bao cấp số nhân ở những người bị SNHL (chỉ có một nghiên cứu đối với kích thích tonepip). Vì vậy, người ta không thể khuyến nghị những kích thích này cho việc sử dụng lâm sàng vào lúc này.
Cho đến nay hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng các âm AM hình sin, hoặc các kích thích AM / FM (“điều chế hỗn hợp”).
ASSR1:QUI TRÌNH LÂM SÀNG KẾT HỢP ABR / ASSR: xem ở trên
ASSR2: ASSR ĐÃ CÓ SẴN ĐỂ THỰC HIỆN CHƯA ? xem ở trên
Việc sử dụng phác đồ lâm sàng kết hợp ABR / ASSR của các tổ chức / bác sĩ lâm sàng chuyên ngành có hiểu biết và kinh nghiệm đáng kể về ASSR có vẻ hợp lý vào thời điểm này.
Khi các ngưỡng được nâng cao, ASSR không được sử dụng như một đánh giá ngưỡng điện sinh lý độc lập – trong trường hợp này, ABR kích gợi âm đường khí và xương tiến hành là cần thiết và được ưu tiên (xem ở trên).
ASSR có một số “ưu” và “nhược điểm” liên quan đến việc triển khai lâm sàng hiện tại. Một phòng khám (hoặc bác sĩ lâm sàng) xem xét thực hiện chúng PHẢI xem xét những điều này và đưa ra lựa chọn của họ để hiểu các vấn đề.
DƯỚI ĐÂY LÀ MỘT SỐ ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM …
ƯU ĐIỂM :
• • ASSR được đo một cách khách quan – Nó không yêu cầu chọn đỉnh. Do đó, Nó không đòi hỏi nhiều sự tinh tế / kinh nghiệm / đào tạo như ABR (đặc biệt là ABR kích gợi âm).
• • ASSR có thể đo lường phản ứng với nhiều kích thích và cả hai tai đồng thời. Điều này làm cho nó có khả năng đo nhanh hơn ABR.
• • Dữ liệu hiện có về khả năng nghe bình thường hoặc mất thính giác thần kinh giác quan cho thấy ngưỡng ASSR chính xác (hoặc gần như chính xác) cũng như ngưỡng ABR kích gợi âm (tone-evoked ABR thresholds ).
NHƯỢC ĐIỂM :
• • ASSR, đặc biệt là multiple ASSR, có cơ sở dữ liệu lâm sàng hạn chế – nghĩa là, cần phải có nhiều nghiên cứu hơn ở người lớn và trẻ sơ sinh bị mất thính lực ở các mức độ, cấu hình và căn nguyên khác nhau. Rất ít dữ liệu như vậy được công bố liên quan đến kỹ thuật multiple ASSR (mặc dù điều này đang được cải thiện nhanh chóng).
• • Đặc biệt, có rất ít dữ liệu về multiple ASSR ở trẻ sơ sinh / trẻ nhỏ bị SNHL có theo dõi hành vi (hoặc tone-ABR).
• • Rất ít dữ liệu liên quan đến ASSR đối với các kích thích dẫn truyền xương , đặc biệt là ở trẻ bị mất thính giác
• • ASSR có thể mất nhiều thời gian để nhận được đáp ứng gần ngưỡng – kinh nghiệm của chúng tôi là ASSR “rõ rệt” mất nhiều thời gian hơn ABR “có thể tạo ra”.
• • Lựa chọn thiết bị bị hạn chế; chúng không được kiểm tra rộng rãi bởi các nhà điều tra độc lập.
ASSR ĐÃ SẴN SÀNG THỰC HIỆN LÂM SÀNG CHƯA?
Chưa phải là một biện pháp độc lập, ngoại trừ việc xác định ban đầu là “bình thường” hay “bị tang lên”. Chắc chắn, các bác sĩ lâm sàng nên xem xét các ASSR, ghi nhớ ưu và nhược điểm của chúng – nếu họ cảm thấy ưu hơn nhược điểm, thì họ nên điều tra chúng. Câu trả lời đủ điều kiện của tôi là, kể từ tháng 11 năm 2009, ASSR chưa hoàn toàn sẵn sàng cho việc triển khai lâm sàng nói chung và chỉ được sử dụng như một phương pháp bổ trợ cho tone-ABR nếu ngưỡng tăng cao. Nó không được là AEP duy nhất có sẵn (ABR vẫn rất cần thiết, ngay cả đối với các vấn đề về ngưỡng). Nếu ngưỡng ASSR được nâng cao, cần có AC/BC tone-evoked ABR . Có một số câu hỏi / vấn đề cần giải quyết trước tiên (xem “nhược điểm” ở trên), đặc biệt là việc thiếu bất kỳ cơ sở dữ liệu lâm sàng hợp lý nào. Việc thiếu gần như hoàn toàn dữ liệu dẫn truyền xương khiến cho việc triển khai ASSRs đầy đủ / độc lập là không thể (yêu cầu BC ABR).
ASSR3. BẠN ĐỀ XUẤT THIẾT BỊ / NỀN TẢNG ASSR NÀO?
Sau khi đọc câu trả lời ở trên, người ta sẽ thấy rằng tôi sẽ không thể đưa ra và giới thiệu một máy cụ thể.
Máy đo ASSR lâm sàng hiện có chưa được thử nghiệm rộng rãi bởi các nhà điều tra độc lập. Nó chắc chắn phụ thuộc vào kế hoạch sử dụng của bạn. Nếu để sử dụng trong lâm sàng, máy được khuyến nghị cuối cùng PHẢI có khả năng đo ABR (bạn vẫn cần ghi lại ABR với kích thích click để điều tra lý do cơ bản về ngưỡng ASSR cao – có thể là bệnh thần kinh thính giác ….), và hy vọng N1-P2 vỏ não cũng đo được. Ngoài ra, bởi vì một lợi thế lớn của ASSR là có thể thu được các phản ứng với nhiều kích thích (ví dụ: 4 tần số cho mỗi tai) (tức là cùng một lúc với một kích thích duy nhất cho một tai), tôi tin rằng chiếc máy cuối cùng được khuyến nghị nên có khả năng nhiều kích thích. Cuối cùng, bởi vì có những câu hỏi chưa được trả lời, nhất thiết sẽ có những thay đổi / cải tiến: máy được đề xuất cuối cùng phải có tính linh hoạt tích hợp đối với các kích thích, thông số, biện pháp phản hồi, v.v. Tất nhiên, một máy nghiên cứu phải rất linh hoạt (và không đắt , vì các nhà nghiên cứu có ít tiền …).
Các hệ thống ASSR cụ thể cần được kiểm tra nơi lắp đặt tốt. Hệ thống ASSR nên dựa trên các thuật toán phát hiện phản ứng và kích thích ASSR đã được kiểm tra kỹ lưỡng – hy vọng rằng thông tin như vậy có sẵn trong các tài liệu khoa học . Tất nhiên, sẽ tốt hơn là các hệ thống cũng được kiểm tra tốt bởi các nhà nghiên cứu không có bất kỳ xung đột lợi ích nào (ví dụ: bất kỳ lợi ích tài chính nào) với hệ thống / công ty.
Lựa chọn thiết bị bị hạn chế nhưng ngày càng nhiều lua chọn hơn. Tính đến tháng 11 năm 2009
Người dịch : Thầy thuốc ưu tú
BS. CHUYÊN KHOA II NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *